Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

Sơn mài Hoàng Đình Tài

Phạm Tiến Duật

   Năm vừa qua, Hoàng Đình Tài có tặng tôi một bức ký họa trong chiến tranh, cảnh tôi đang ngồi viết trên một tảng đá và phía dưới là dòng sông Talê chảy xiết trên triền phía tây của dải Trường Sơn. Ấy là khoảng tháng ba năm 1969. Hoàng Đình Tài là người đầu tiên chứng kiến sự ra đời của bài thơ sau đó trở thành bài hát Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây. Chuyến đi ấy chỉ có hai đứa chúng tôi thôi. Suốt chục năm trời trên Trường Sơn Hoàng Đình Tài đã ghi chép được hàng mấy trăm ký họa (các tranh gửi ra Bắc khi ấy anh lấy tên là Hoàng Tài Vị). Cho đến hôm nay, khi triển lãm SƠN MÀI HOÀNG ĐÌNH TÀI được bầy ở cái Cổng trời nối kết hai thế kỷ, tôi giật mình và cảm động thấy bao nhiêu gian khó hiện về ở đằng sau những bức tranh kia. Từ màu xám của khói bom ngày nào đã mơ về màu vàng sáng cung đình này. Từ màu xanh sốt rét và thiếu đói đã ước có cái huyền ảo không nói ra lời này. Vẻ đẹp không chỉ là mục đích của nghệ thuật mà trước hết, đã từng, là mục đích, khát khao của những người chiến sĩ.
   Đã qua lâu rồi cái ngày Trường Mỹ thuật Đông Dương còn tranh luận rằng Sơn mài có phải là tác phẩm nghệ thuật hay chỉ là đồ mỹ nghệ (Bây giờ vẫn còn bài viết của Tô Ngọc Vân cãi nhau với mấy ông Tây, bênh vực cho nghệ thuật đích thực của sơn mài). Nhưng cuộc kiếm tìm con đường đi tới của sơn mài vẫn đang tiếp tục. Chính bởi vậy, các triển lãm chuyên một chất liệu như triển lãm lần này của Hoàng Đình Tài quan trọng biết bao nhiêu.

 Chiều Trường Sơn - Sơn mài của Hoàng Đình Tài

   Hoành tráng và lộng lẫy, kỹ lưỡng và trăn trở. Đó là tám chữ đập vào tôi khi xem triển lãm. Nếu bỏ tên tác giả đi tôi vẫn nhận ra tác phẩm của Hoàng Đình Tài. Phong cách của anh thật rõ. Cái khỏe khoắn này không thấy có trong sơn mài truyền thống. Có lẽ Hoàng Đình Tài được truyền chất khỏe này từ đất Cảng quê anh. (Đã là dân hải cảng, dù là Hải Phòng hay bất cứ nơi nào có cảng thì văn, thơ, nhạc, họa đều có sóng, có gió). Hãy xem lại bức Nắng mà coi. Áo dài là mềm mại, ánh nắng là mềm mại, cánh chim là mềm mại. Thế mà ấn tượng chung vẫn là cái sức sống trỗi dậy, cái ước mơ trỗi dậy không sao kìm hãm được. Kinh Phật Thủ Lăng Nghiêm viết : “Dù mắt ngươi có như chén lưu ly, như cánh hoa sen xanh đặt trên mặt Phật, thì khi ngươi mở mắt ra là ngươi nhìn vào thiên hạ; khi ngươi nhắm mắt lại là ngươi đang nhìn vào chính thân thể ngươi”. Suy rộng ra, người sáng tác cũng vẽ bằng hai trạng huống ấy. Viết bằng mở mắt và viết bằng nhắm mắt. Có nhắm thì mới có chất suy tư. Suy tư là một nét không thể thiếu trong sáng tác của Hoàng Đình Tài. Lấy bức Kiếp người trong triển lãm này làm ví dụ. Chữ kiếp trong kiếp người là chữ nhà Phật, trong tiếng thông tục thì nó hơi đau đớn quá. Hình như câu dịch ra tiếng Anh ở dưới tranh trung tính hơn (Human life). Khoảng sáng nhất là dành cho người làm nghệ thuật, khoảng chìm sâu là đủ loại công việc mà đời người phải làm. Trên đầu có nhân vật có ba hình tượng như ý niệm vốn có của người Việt ta từ nghìn xưa: một vầng sáng của lý tứ, một hình Phật của tâm linh và đường tới sao Thần nông của sự lam làm. Đến bức tranh Dòng sông thì khả năng trừu tượng còn được nâng lên một bước nữa. Cái chuyển động của màu vàng sáng trong tranh này làm tôi như bị ám ảnh. Cái dân tộc và hiện đại ở đây đã hòa quyện một cách nhuần nhuyễn.
Nhưng thôi, tôi không đi vào bình các bức tranh cụ thể nữa. Điều đó để dành cho các nhà chuyên môn. Rằng cái truyền thống đình chùa trong chất liệu, trong màu sắc, Hoàng Đình Tài giữ cái gì, tôn cái gì. Rằng về màu, về mảng, về nét, về bố cục, về kỹ thuật Hoàng Đình Tài thêm được nhưng gì. Nhân đây, tôi cũng mong Hội Mỹ thuật Việt Nam, sau mỗi triển lãm như triển lãm này rất nên có những cuộc hội thảo đi kèm thì tính nghiệp vụ của Hội càng được tăng cường và đẫy cũng là dịp quảng bá cho công việc nghệ thuật.
   Xem xong triển lãm này tôi thấy vừa vui cho Tài, vừa lo cho Tài. Đầu tư cho chừng ấy tranh, ngoài tâm linh, trí tuệ và tài năng còn phải đầu tư tài chính nữa. Lạy giời cho Hoàng Đình Tài bán được tranh để có thể tái đầu tư vẽ tiếp. Chúc anh và các họa sĩ đồng nghiệp của anh thành công.
-------------

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2012

Quốc Thái – một nốt trầm xao xuyến

Đỗ Hân

Đã 2 lần (lần 1 vào tháng 8-1994, lần 2 vào tháng 4-2007) mở cuộc triển lãm cá nhân tại Nhà triển lãm 16 phố Ngô Quyền, Hà Nội, họa sĩ Quốc Thái lại chuẩn bị hành trang cho cuộc triển lãm cá nhân lần thứ 3 tại đây vào tháng 4 tới. Đến xưởng vẽ của Quốc Thái mới thấy sự say nghề của ông. Ông vẽ rất nhiều và dường như màu xanh là chủ đạo bao trùm các bức tranh, tạo nốt trầm xao xuyến.

Quốc Thái là họa sĩ trình bày của Báo An ninh Hải Phòng từ ngày đầu thành lập cho đến khi nghỉ hưu. Ông tự hào cả nhà có 3 bố con ra lò từ trường mỹ thuật Yết Kiêu.

Trong xưởng vẽ của Quốc Thái có một tủ sách mỹ thuật, ở đó phần lớn là sách nước ngoài. Có những quyển sách phải đánh đổi bằng 2 xe đạp Mifa. Ông tự hào cho rằng họa sĩ không đọc sách, không nghiên cứu thì rất khó tiến bộ.

Xem tranh của ông bỗng thấy trào dâng những cảm xúc từ những bài hát quen thuộc về làng quê, về thành phố Cảng, về những con người, mà đặc biệt là người phụ nữ ở thành phố này.

Tranh phong cảnh chiếm số đông trong xưởng vẽ của Quốc Thái. Đây là thể loại thường vẽ trực tiếp. Chất liệu sơn dầu và acrylic từ lúc vẽ đến lúc khô không thay đổi đã hội đủ khả năng nắm bắt hình sắc vốn có của tự nhiên. Quốc Thái đã trình diễn phần lớn là sắc mầu trầm để bày tỏ tình cảm của mình, thế nên các bức tranh ấy có khả năng chuyển tải cảm xúc tươi nguyên trước cảnh vật dưới những chiều không gian khác nhau và mang đến những cảm thụ cuộc sống khác nhau.

Đã xem nhiều tranh về phố cổ Tam Bạc, nhưng Tam Bạc trong tranh Quốc Thái thật hiền và dễ thương. Nó có một nét rất riêng so với những họa sĩ khác. Cũng như rất nhiều họa sĩ ở thành phố này sợ mất đi phố cổ Tam Bạc nên Quốc Thái cũng hối hả vẽ Tam Bạc. Tam Bạc bình minh mờ trong sương hay cả buổi chiều thuyền về cập bến. Nó lạ, đáng yêu lắm, nó khiến người ta phải suy ngẫm, phải lo sợ sự phôi pha của Tam Bạc. Cảnh miền quê cũng là điểm nhấn trong tranh của họa sĩ quê thuốc lào. Bên cạnh đó là những bức tranh ngõ nhỏ về đêm, hoa sen –quốc hoa của đất Việt, về quán hoa Hải Phòng rồi cả tranh tĩnh vật, những thứ trong nghi lễ cúng bái như ngựa giấy, gà trống. Họa sĩ Quốc Thái vẽ về Bác Hồ thời những năm chiến dịch biên giới, về người lính. Rồi Quốc Thái thể hiện tình yêu của mình qua những bức tranh về Cát Bà, về những chợ cá ồn ào, sự ấm áp mùa đông và hình tượng người phụ nữ. Bức tranh Tiến về phía trước quả đáng nể, nó là nốt trầm xao xuyến thực sự. Đó là một người phụ nữ bươn chải, kiếm sống đẩy chiếc xe đạp chở hàng hóa cao vượt đầu tiến về phía trước, một chất rất riêng của Hải Phòng – mảnh đất của Bến Bính, Sáu Kho.

Ngày 20-4 tới, phòng tranh sẽ khai mạc. Nhân dịp này, Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam trao tặng họa sĩ Quốc Thái kỷ niệm chương vì sự nghiệp VHNT Việt Nam. Ông giãi bày: Tôi mang tới triển lãm khoảng 70 tranh, trong đó có 30 tranh sơn dầu. Chất lượng tranh xin để dành giới chuyên môn đánh giá”.

-------------
Theo "Báo Hải Phòng" 18/4/2012

Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012

Họa sĩ Quốc Thái

Bùi Ngọc Tấn

Quốc Thái đã có nhiều giải thưởng mà có lẽ giải thưởng đáng chú ý nhất là giải thưởng trong cuộc thi vẽ bìa cho họa báo Ba Lan (năm 1973), một trong số ít đất nước luôn có những trào lưu tiên tiến nhất về hội họa trên thế giới, và đã có 2 triển lãm cá nhân tại Hà Nội.

 Họa sĩ Quốc Thái - ảnh thangmdk

Ngay từ nhỏ, cậu bé Nguyễn Quốc Thái đã mê màu sắc. Cho đến bây giờ, đã ngoài 60 tuổi, họa sĩ Quốc Thái vẫn nhớ như in cảm giác hồi lên 6, được bố cho một lọ mực Parker Quink và một chiếc thước kẻ 4 cạnh 4 màu: xanh lơ, đỏ, vàng chanh, lá cây. Thái ngắm nghía màu sắc trên chiếc thước kẻ mà cứ bần thần cả người. Sao lại có cái thước đẹp như vậy, những màu sắc đẹp như vậy. Cậu lăn chiếc thước giữa hai lòng bàn tay để thấy những màu sắc nối nhau, như hòa vào nhau vô tận.
Ngoài chiếc thước, Thái còn một thú chơi màu sắc nữa. Về mùa Đông, các cô, các chị đan len, những mẩu len loại bỏ đi, Thái nhặt nhạnh, ngắm nhìn mê mẩn biết bao màu xếp sóng cạnh nhau, mãi không chán mắt. Thế rồi một lần được ra khỏi làng theo bố tới cầu Bo, thấy chiếc cầu đồ sộ bắc ngang dòng sông mênh mông, ấn tượng vĩ đại của trời mây sông nước in vào trí óc cậu bé con lần đầu tiên đi xa làm Thái ngợp. Yêu con sông quá, yêu chiếc cầu quá, về nhà, Thái vào bếp lấy than vẽ lên tường một chiếc cầu bắc qua sông. Bố bắt quả tang “họa sĩ đang sáng tác”, quát:
-Mày nghịch kiểu gì thế, than gio đen hết cả mặt mũi chân tay rồi.
Thái sợ hãi:
-Con vẽ cầu Bo...
Bố ngắm nghía “bức tranh”, nét mặt dần thay đổi: “Ừ. Giống đấy”. Và gọi cả nhà đến xem. Đó là tác phẩm đầu tay của họa sĩ Quốc Thái sáng tác năm lên 7 tuổi. Một bức bích họa, chất liệu than củi.
Quê gốc Tiên Lãng, sinh ở Thái Bình, cậu con cầu tự Chùa Keo đã cùng gia đình phiêu bạt khi chiến tranh chống Pháp lan đến. Rời Phú Khê, ra Quán Trữ ở nhờ, Thái phụ giúp mẹ bán bún riêu, bán nước mía và đi học, nhưng trong lòng luôn khao khát được vẽ. Vở học của cậu chen lẫn gà, chim, cây, nhà, chân dung bạn học, chân dung bố mẹ. Vẽ bằng bút chì xanh đỏ.
Học xong cấp 2 trường Trí Tri (cùng với các nhà văn Đình Kính, Lưu Văn Khuê), Thái xin học vẽ truyền thần tại nhà cụ Công Ánh trước cửa Vườn hoa đưa người, người vẽ truyền thần giỏi nhất Hải Phòng thời đó.
Biết vẽ rồi, Thái về Kiến An, ở nhờ người quen, hành nghề kiếm sống. 6 tháng như vậy, Thái bỏ truyền thần. Anh đã chán việc sao chép lại sự thật.
Thái chuyển sang làm cho Ty Văn hóa Kiến An, theo người ta cắt khẩu hiệu, rồi vẽ tranh cổ động, hoan hô anh Ga ga rin (Liên Xô) bay vào vũ trụ...và được đăng ký hộ khẩu Kiến An. Từ ấy anh là người thành phố.
Một hôm sau khi xem một phim trinh thám Liên Xô, Thái nảy ra ý nghĩ xin vào Sở Công An Hải Phòng. Ba ngày sau khi nộp đơn, Thái được gọi thử nghề: Vẽ một ngã tư đèn xanh đèn đỏ, đèn đỏ người dừng, đèn xanh người đi. Thời hạn 7 ngày, 3 ngày Thái đã “nộp quyển” và trúng tuyển.
Tại sở Công an, anh được biên chế ở phòng cảnh sát giao thông, chuyên vẽ tranh an toàn giao thông, rồi chuyển về bảo tàng, trình bày bảo tàng, trang trí các hội nghị, đại hội, kẻ vẽ khẩu hiệu. Cọ, giặt pa nô, mua sơn, nghĩ đề tài, thể hiện đề tài.
Con đường đến với hội họa của chàng thanh niên “nhà quê, từ bùn đất mà lên” Quốc Thái đầy gian nan thử thách. “Vô sư, tự ngộ” trong khi những sách về hội họa ngày ấy gần như vắng mặt trong các hiệu sách. Thì gặp gỡ các họa sĩ đàn anh trao đổi học tập và mượn số sách ít ỏi của họ về đọc. Sang sở văn hóa học kẻ chữ. Và ký họa. Ký họa không ngừng. Ăn xôi sáng vỉa hè, thấy trong mảnh giấy báo gói xôi có bức ký họa (của Văn Đa), anh mang về cơ quan, vuốt thẳng, phơi, nghiên cứu từng nét vẽ.
Cứ như vậy, hơn mười năm qua đi. Anh đã sáng tác được một số tác phẩm được dư luận chú ý.

Sự thật thì công việc của Quốc Thái thời ấy không trơn tru, trôi chảy. Mỗi thành công của anh đều gây cho anh nhiều phiền toái. Cuộc sống tem phiếu trong chiến tranh thời bao cấp mới ngặt nghèo làm sao. Tất cả vật lộn trong cuộc mưu sinh. Đảm bảo dinh dưỡng tối thiểu là mục tiêu không phải ai cũng đạt được. Bát phở được coi như một liều thuốc bổ. Khó khăn đến mức khi được phân phối 2 mét vải pô pơ lin, anh đã phải bán lấy tiền mua vải vẽ. Thái nai lưng ra vẽ. Tranh cổ động là nguồn sống chính của anh và vợ con. Rất nhiều tranh cổ động của anh được in, được giải. Có một bức tranh cổ động của anh được yêu cầu nhân ra tới 60 bản. Hai tuyển tập tranh cổ động Việt Nam, Quốc Thái có đến 7, 8 bức trong mỗi cuốn. Trong cuộc thi vẽ tem, Quốc Thái được giải cùng với Huy Toàn, Thế Vỵ.
Những thành công bước đầu đó có nghĩa là anh có cuộc sống dù khó khăn nhưng vẫn khác với đại đa số các đồng nghiệp công an khác. Anh bị coi như một tế bào lạ. Vừa có danh vừa có tiền, anh chịu một cái “án treo” trước dư luận. Người ta nói về cái tật anh không hòa đồng, ở cơ quan nhưng rất ít giao tiếp với anh em mà lại thân thiết với những thanh niên bên ngoài quần bò áo kẻ, tóc xõa vai (những họa sĩ, những người làm công tác tuyên truyền cổ động của sở văn hóa mà anh giao tiếp để học hỏi), về chuyện anh không mặc đồng phục, hơn nữa lại còn áo ca rô, về thói tự do vô tổ chức, rất hay vắng mặt ở cơ quan.
Thái biết tất cả. Anh chỉ muốn được vẽ và không thể thanh minh rằng những thời gian rỗi trong cơ quan, ngồi gẫu chuyện bên ấm trà là lãng phí cuộc đời mình, rằng lúc ấy anh luôn nghe thấy tiếng của đường phố, của nhà máy, các công viên và cả ở những đồng ruộng ngoại thành gọi anh ra sáng tác, ra ký họa. Trong một buổi trốn cơ quan đi ký họa ở công viên, anh gặp một tốp nữ tự vệ đang tập quân sự. Có một cô gái mảnh mai xinh đẹp da trắng má hồng. Anh đã ký họa cô. Cô tự vệ đã xách súng gỗ đến đứng sau anh, ngó bức ký họa và nhận ra mình. Hôm sau, kịch bản được lặp lại.
Thế rồi khi chiến tranh leo thang ra tới Hải Phòng, cơ quan anh sơ tán về Chợ Cột Đèn, anh thấy cô sáng sáng cầm dấng đi mua chè tươi. Thì ra cơ quan cô cũng sơ tán về gần đó. Anh gặp cô ngỏ ý muốn cô làm mẫu vẽ. Cô nhận lời. Bức tranh Nữ tự vệ được ra đời như vậy.
Nhìn bức tranh, họa sĩ Thọ Vân, phụ trách hội họa Hải Phòng kêu lên:
-Quá đẹp! Tao sẽ cho đóng khung cho mày trưng bày ở triển lãm thành phố!
Còn gì vui hơn. Gỗ khung ngày ấy quý gần ngang với ngà voi! Vui hơn nữa khi hai người cùng đến triển lãm xem tranh giữa đông đảo khán giả mà không ai biết họ là tác giả và người mẫu. Tình yêu bắt đầu từ đấy. Đám cưới được tổ chức sau đó không lâu. Cô tự vệ Nguyễn Thị Kim trở thành chị Quốc Thái bây giờ.

Họa sĩ Quốc Thái, người công an suốt đời chỉ cầm bút vẽ ấy đã về hưu. Những bức tranh của anh “như mọi họa sĩ thuộc thế hệ trong kháng chiến chống Mỹ, trung thành với bút pháp tả thực, bút pháp mà ông học được trong trường mỹ thuật, bút pháp để ghi nhận thực tế như nó có. Ông vẽ phong cảnh, chân dung, tĩnh vật một cách chân tình, điềm đạm, bức tranh thường bình lặng tới mức, như là không phải sinh ra trong khói lửa đạn bom” (Phan Cẩm Thượng). Xưởng vẽ chật hẹp của anh đặt trên gác 2 một ngôi nhà nhỏ trong một ngách phố Văn Cao. Tranh quây quanh bốn bức tường. Tranh chất trên gác lửng. Phác thảo, ký họa. Sơn nước (acrylics). Sơn dầu. Đó là những bữa tiệc của màu sắc.
Quốc Thái đã có nhiều giải thưởng mà có lẽ giải thưởng đáng chú ý nhất là giải thưởng trong cuộc thi vẽ bìa cho họa báo Ba Lan (năm 1973), một trong số ít đất nước luôn có những trào lưu tiên tiến nhất về hội họa trên thế giới, và đã có 2 triển lãm cá nhân tại Hà Nội.
Tuy vậy, với Quốc Thái “Bây giờ mới là lúc tôi vẽ”. Anh nói vậy với cả hai ý nghĩa: Dành toàn bộ thời gian cho hội họa và tiếp tục đổi mới mình trong hội họa. Quốc Thái vẫn đang độc hành trên con đường sáng tạo. Anh vẫn đang tìm tòi đổi mới. Nhưng có một điều ai cũng nhận thấy: Cái tình của anh trong những bức tranh. Điều ấy thật khó diễn đạt. Đứng trước nhiều bức tranh Quốc Thái ta thường vấn vương đến những gì ngoài chúng. Ta sẽ tìm thấy tuổi thơ đã mất trong bức Đi câu. Và đứng trước bức Sau cơn mưa, trời, nhà, cây như còn láng một lớp nước mưa trong suốt, ta cảm thấy hơi nước mát lạnh đang tỏa quanh ta, tâm hồn ta đang được mưa thanh lọc...

Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2012

The Grudge Lonely Heart: Madam Miaow seeks boyfriend



The Grudge is looking for a boyfriend so give her a Ring. You have seven days ...

Bo Xilai's downfall in cartoon form: CCPology made easy



Arf, arf!

Other news in the China saga: blind activist Chen Guangcheng escapes but his family may pay the price. Also here.

Ai Weiwei's cactus and crab packs political punch



Ai Weiwei has another work on show in London: a living sculpture, "The Box", consisting of a crab and a cactus in the small confined space of a white box (the artist has been incarcerated for months at a time in China) is at the Pippy Houldsworth Gallery from today.

As with the box, the significance of the prickly cactus is fairly easy to work out but what some Western commentators may me missing is what the crab may mean, especially if it turns out to be a river crab. The gallery had to search around for the right kind of cactus as stipulated by Ai. I do hope they managed to obtain a Chinese mitten crab — the river crab — as this carries an extra layer of meaning in written Chinese: harmony which has become synonymous with censorship.
In Chinese Mandarin, the word "River crab" (河蟹), which originally means Chinese mitten crab, sounds similar to "Harmonious/Harmonize/Harmonization" (Chinese: 和谐) in the word "Harmonious society" (和谐社会), Chinese leader Hu Jintao's signature ideology.

Along with "grass mud horse" (meaning yo mama's anatomy), river crabs have been used for years by China's netizens to goad the Chinese government. Let's hope they let him out for the launch of his pavilion at the Serpentine Gallery in London this summer.

For your edification and amusement, here's The Song of the Mud Grass Horse which makes South Park look like Enid Blyton.



Ai Weiwei's The Box is at the Pippy Houldsworth Gallery, 6 Heddon Street, London W1, 27 April - 26 May 2012.

Thứ Năm, 26 tháng 4, 2012

Chuyện về nhà điêu khắc Phạm Ngọc Lâm

Nguyễn Thị Vân

Ngồi trước mặt tôi là "cây đa, cây đề" trong làng nghệ thuật điêu khắc Việt Nam. Người đàn ông đó đã ngoài 70 tuổi, khuôn mặt như được tạc bằng đá thô nhám, nặng nề, mang đậm chất phong trần với mái tóc đã nhuộm muối tiêu. Nhưng khi tiếp xúc, thoắt chốc, tôi bị Anh chinh phục bởi sức sáng tạo, sự nhiệt tình, một vẻ hồn nhiên thơ trẻ, nhân hậu và tình yêu say đắm cái đẹp. Anh là Hoạ sỹ, nhà điêu khắc Phạm Ngọc Lâm- Người con của Thành phố Hoa phượng. Anh kể về dự định ấp ủ bấy lâu, đó là ước nguyện truyền nghề điêu khắc cho các học trò "cưng" là những trẻ tật nguyền, nạn nhân chất độc Da cam, trẻ lang thang... với ý tưởng kêu gọi các nhà doanh nghiệp hảo tâm mở một trường dạy vẽ, dạy nghề thủ công mỹ thuật cho các em tại Hải Phòng.

 Nhà điêu khắc Phạm Ngọc Lâm (Ảnh: Võ Long)

Yêu đến... tham lam
Nói Phạm Ngọc Lâm tham lam bởi lẽ: con người ấy không bao giờ biết ngừng nghỉ trước nghệ thuật. Anh sinh ra là con nhà nòi, nên điêu khắc dường như là máu thịt và là phần không thể thiếu trong cuộc đời Anh. Thời học phổ thông, Anh nổi tiếng là kẻ lập kỉ lục "lưu ban trong trường" vì cứ học chữ một năm, Anh lại lóc cóc lên Hà Nội học nghề điêu khắc một năm, năm sau quay lại học tiếp. Học vẽ và tập toạng gò những tấm đồng từ thuở nhỏ. Anh đến với nghệ thuật như một thứ "duyên ngầm" mà cho đến bây giờ Anh vẫn không khỏi tự hào về điều đó.
Lỡ ước mơ đại học để vào quân đội, chàng trai mang trong mình ngọn lửa của niềm đam mê hội hoạ và điêu khắc đã biến Tổng cục hậu cần ngày ấy thành lớp học nghệ thuật. Và Ngọc Lâm nghiễm nhiên đã trở thành  thầy dạy lính. Thế là từ đó, ngoài nhiệm vụ hậu cần bộ đội lại có những khoảng thời gian ngồi mày mò nặn, đúc, gò... dưới sự hướng dẫn của thầy Lâm. Những sản phẩm của những nghệ sĩ không chuyên là những bức tranh, bức tượng chân thực về cuộc sống, sinh hoạt của chính các anh. " Nó không lên tới đỉnh cao về kỹ xảo điêu khắc nhưng nó có hồn, đẹp và trong sáng"- Hoạ sĩ Bùi Quang Ánh đã ghi nhận xét như vậy sau khi xem "Triển lãm bộ đội hậu cần" năm 1979.
Mấy tiếng đồng hồ ngồi trong căn nhà 3 tầng, nằm khiêm tốn trong con ngõ nhỏ của Hải Phòng để nghe nhà điêu khắc Phạm Ngọc Lâm nhớ về kỉ niệm. Cảm giác cứ muốn nghe mãi, nghe mãi...Kì lạ! Cái thời chiến tranh loạn lạc và gian khổ ấy không đủ sức dập tắt tình yêu của Anh với nghệ thuật mà dường như còn làm cho nó sôi nổi hơn, mạnh mẽ hơn. Ngày ấy đã là quá khứ rất đẹp trong Anh nên đến hôm nay, mấy chục năm rồi Anh vẫn kể tôi nghe trong niềm hạnh phúc tưởng như vừa mới đến.
Năm 1969, người "thầy giáo" của lính ấy bắt đầu bước vào Trường đại học Mỹ thuật để thực hiện ước mơ trở thành nhà điêu khắc chuyên nghiệp. Làm công việc của một chiến sĩ, Phạm Ngọc Lâm vẫn sống với tâm hồn của một nghệ sỹ, vẫn say mê, vẫn lặn lội tìm kiếm ý tưởng, nguyên liệu và sáng tác.
Thế nên, con đường học tập của anh cũng kéo dài đến năm 1974 vì ngoài một Ngọc Lâm trên giảng đường, vẫn có một Ngọc Lâm lang thang các ngóc ngách của cuộc sống. Năm 1980, Anh mới xin gia nhập vào Hội Mỹ thuật Việt Nam và năm 1984 Anh xuất ngũ để bắt đầu chuyên tâm thực sự vào nghề. Anh cứ nói đùa rằng : "Nhiều khi đôi mắt tham lam quá, khiến đôi tay không kịp đuổi. Nhìn cái gì mình cũng rung cảm, mủi lòng và thấy đẹp". Cái đẹp hình như có "duyên" với kẻ đa tình ấy. Cho nên, suốt gần nửa thế kỉ Anh sống cho nghệ thuật, sống vì nghệ thuật, mà Anh vẫn cảm giác phải sống nhanh, sống vội để kịp làm cho xong những điều ấp ủ.
Khi mái tóc đã ngả màu, nghệ sỹ Phạm Ngọc Lâm vẫn lang thang khắp nơi. Cứ bảo với ai đó là đi chơi cho thanh thản nhưng kì thực, mục đích của Anh vẫn là đi tìm nguồn cảm hứng, tìm đề tài sáng tạo. Đoạn đường đi dài không biết mỏi. Có những lần Anh bảo, chỉ khi nào đồng tiền cuối cùng  trong túi ra đi thì Anh mới trở về nhà. Vậy là dù sao mái ấm gia đình cũng chính là nơi bình yên đối với một kẻ chỉ biết công việc ấy. Bởi nơi đó, có một người vợ rất xinh đẹp lại biết thông cảm với nghề nghiệp của chồng. Chị Phùng Thị Hường (vợ anh) tâm sự: " Nói thật với em, điêu khắc giống như người tình của anh ấy rồi, biết làm sao được. Là vợ, thấy anh vất vả, chị cũng chỉ biết động viên, ủng hộ anh mà dần dần cũng thấy yêu luôn cái nghề của chồng mới lạ chứ".

Người thổi hồn cho hình khối
Ngọc Lâm kể về quá trình sáng tạo một tác phẩm điêu khắc hay gò đồng của Anh không đơn giản. Đầu tiên Anh phác thảo trên trang giấy những ý tưởng. Sau đó, Anh là một "thượng đế" đi chợ mua hàng, chọn những tấm đồng, những thanh gỗ hay những tảng đá... phù hợp. Và cuối cùng Anh trở về với vai trò là một người thợ, đục, đẽo, tạc, gò...Vậy là, những tác phẩm của Phạm Ngọc Lâm không chỉ được vẽ bằng bút, bằng giấy mà còn bằng búa, bằng đục và bằng... lửa.

Voi trường Sơn- phù điêu gò đồng- 200cm x 140cm- năm sáng tác 1999

Chất liệu cho mỹ thuật điêu khắc rất phong phú, nhưng Ngọc Lâm hợp với đồng. Từ những tấm đồng phẳng "lạnh lùng" Anh "thổi hồn" mình vào đó.  Nói ra tưởng chừng như dễ mà lại gian nan vô cùng. Nghĩ ra ý tưởng sáng tạo đã là khó, việc tìm những nguyên liệu cho nó càng khó hơn. Có những tác phẩm, Anh phải " nhặt nhạnh" từ những đồ phế thải, có lúc Anh phải "lọ mọ", phải lăn lộn khắp nơi, tốn nhiều công sức và tiền của. Anh kể một kỉ niệm vui khi Anh lên Hà Nội tìm mua kèn đồng cổ để làm tác phẩm "ban nhạc đồng nát". Đi rất nhiều nơi, ngắm rất nhiều sản phẩm nhưng chưa vừa mắt. Thế rồi tình cờ, Anh lại được đôi vợ chồng không quen, biếu một đôi kèn rất giá trị, chỉ vì thấy thích ý tưởng sáng tạo của Anh. Không phải lúc nào cũng may mắn, có những khi Anh ngồi thẫn thờ tiếc "hùi hụi" vì là kẻ đến sau, có khi phải về tay trắng...
Nhưng nghề của Anh là vậy, nếu chỉ làm để chơi thì nhàn, còn làm để đời, để có một Ngọc Lâm hôm nay thì quả thực phải yêu, phải say và quyết tâm đến cùng. Người bạn đồng nghiệp với Anh- hoạ sỹ Lê Bá Hạnh ngưỡng mộ: "Lâm có sức sáng tạo đáng nể, một nghệ sỹ có tài năng và hắn là một kẻ yêu cuồng tín điêu khắc" .

  Lời của biển- tổng hợp- 175cm x 230cm- sáng tác năm 2003

Trong cuộc đời làm nghệ thuật, tác phẩm của Ngọc Lâm chỉ tính đến hàng trăm nhưng Anh có khá nhiều những tác phẩm ấn tượng và độc đáo. Đó là: "Lời của biển" đạt giải đặc biệt trong triển lãm điêu khắc Toàn Quốc 10 năm (2003). Bức phù điêu gò đồng "Về với cội nguồn" đạt giải Cúp vàng Quốc gia năm 2004. Gần đây nhất là tác phẩm "Dinh dưỡng của trần gian" đạt giải đồng hạng và giải khuyến khích trong Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc năm 2005. Đây là tác phẩm mà Ngọc Lâm cảm thấy tâm đắc và tốn nhiều "chất xám" nhất. Đó là một bức tranh thu nhỏ về một xã hội với tất cả sự" trần tục" của con người trong cuộc hành trình tìm "miếng cơm". Là tác phẩm mà một người Mỹ đã trả tới 30.000 USD nhưng Anh không bán bởi Anh muốn giữ lại làm một kỉ vật gia truyền trao cho cô con gái cưng: Lâm Phương (ca sĩ giọng hát hay toàn quốc năm 1998 được nhiều người biết đến với bài Chảy đi sông ơi  nhạc của Phó Đức Phương).

Điều đặc biệt khi xem tác phẩm của Ngọc Lâm đó chính là chất nhân văn toát ra đằng sau vẻ "lạnh lùng" của những tấm đồng đã được "luộc" qua lửa. Có những khi Anh xót xa trước cuộc đời với "Nỗi đau nhân thế", lại có lúc chạnh lòng trước kiếp hồng nhan "Hạt phù sa". Và rồi có khi là niềm lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống trong "Ban nhạc đồng nát", "Bước tới tương lai", hay sắp tới là "Cung đàn muôn thuở"... Xem tác phẩm của Ngọc Lâm, khán giả như được chiêm nghiệm về triết lý cuộc đời: bức tranh sinh động của một xã hội rất thực từ những chất liệu vô tri, vô giác tạo nên. Đặc biệt, trong dịp đầu hè năm nay, họa sĩ Phạm Ngọc Lâm qua mối quan hệ quen biết đã mời được các nhà điêu khắc quốc tế đến Đồ Sơn tham gia Làng sáng tác điêu khắc tại Công ty cổ phần du lịch quốc tế Hòn Dấu. Tại đây anh đã cùng các đồng nghiệp các nước sáng tác khá nhiều tác phẩm kỷ niệm lại cho Hải Phòng. Riêng với anh đó là một tác phẩm để đời: Giọt nước mắt của biển. Thể hiện trên chất liệu đá mặt người đàn bà ngước lên trời, chiếc cằm vươn cao hứng những giọt nước mặn mòi của biển cả. Tác phẩm của Anh được đánh giá cao và giành được giải thưởng lớn, được đặt ở vị trí trang trọng trong công viên nhìn ra biển Đồ Sơn.

Nước mắt của biển - Đá (Khu du lịch quốc tế Hòn Dáu, Đồ Sơn)

Chia tay với nghệ sĩ Phạm Ngọc Lâm - con người vẫn còn đầy chất lính, trong một chiều hạ chìm trong màu hoa đỏ nhức nhối. Anh lại tiếp tục lang thang với lũ trẻ phố, đa tình với nàng tiên bí ẩn - nghệ thuật điêu khắc ở đâu đó. Thành phố Cảng oi bức đang khát những cơn gió biển. Cầu chúc cho dự định mở trường dạy nghề cho trẻ khuyết tật của anh sớm thành hiện thực
-------------
Theo "Tạp chí Hướng nghiệp" 

Chân dung nghệ sĩ:

On the Mississippi Blues Trail: Madam Miaow in America

Duck stars at the Peabody Hotel, Memphis

This article first appeared in Gap Year Magazine

The Mississippi Blues trail

It was the ducks that did it. Even they had their own musical accompaniment: the King Cotton March by John Phillip Sousa, as it happens.

Any trip worth remembering will have its own soundtrack that stays with the traveller long after the souvenirs have gathered dust: whether it be the favourite tracks you load onto your MP3 player or, if you seek escape from your private tourist bubble, the local music you stumble across as you pass through exciting new landscapes.

There are few sounds more powerful than the music associated with the American blues trail, carrying with it the history of an entire people from tragic beginnings in slavery to the creation of a major art form that’s sired jazz and rock and roll in all its forms … except maybe for ABBA.

From what’s left of sleepy sensual New Orleans in the Mississippi Delta in the south after Hurricane Katrina and the developers got through with it, to the speedy urban setting of Chicago on the banks of Lake Michigan 930 miles away in the north, the Blues Highway is one of the culturally richest journeys you can make. The cast in this story features African American music legends John Lee Hooker, Muddy Waters, Howlin’ Wolf, BB King, Buddy Guy, Bessie Smith, Billie Holliday, Sam Cooke, Charley Patton , Willie Dixon, and not forgetting Elvis Presley, Jerry Lee Lewis and a whole bluesmobile-full of others.

I did this by car, taking in all the main centres along Highway 61 in little over a week. A leisurely fortnight would have been ideal and if you can manage longer, well, lucky you.

* * *

The invention of the cotton gin in the late 18th century rejuvenated the use of slavery in the massively profitable cotton growing areas of the Deep South including the Mississippi River Delta. When the Civil War brought an end to slavery, it was replaced by sharecropper poverty and vicious Jim Crow laws as the chief source of misery.

A generation of young African American men left the plantations for work in the cities. The easiest escape was jumping the train north to St Louis and Chicago.

The blues had grown out of field hollers and spirituals. Musical instruments were improvised out of any materials that were to hand. Thus the diddley bow was born out of a piece of wire strung between two nails hammered into the porch. Guitars and harmonicas could be bought cheaply from catalogues and stores.

The luckier among them could get work in the Chicago heavy industries, and because their instruments were portable, the talented ones could make a living or at least feed their souls with their music.

When you take the Mississippi blues trail, you are following in the footsteps of these refugees and early pioneers of jazz and rock. So load up your MP3 player with blues goodies and get ready to roll.


Memphis.

Situated on the banks of the Mississippi River at the crossroads between Tennessee, Louisiana and Arkansas, Memphis is the centre of the American heartland that gave birth to the blues. Mark Twain’s Huckleberry Finn and Jim, the runaway slave, would have sailed past on their raft on their way to freedom.

There’s an observation you’ll see emblazoned everywhere except in sky writing so I’ll introduce you to it here: the Mississippi Delta "begins in the lobby of the Peabody Hotel (in Memphis) and ends on Catfish Row in Vicksburg". They may as well have a T-shirt printed with it. They probably do already.

Stepping into the Peabody Hotel on Union Street conjures up Tennessee Williams, mint juleps and a hundred variants of barbecue sauce that have me drooling even as I write. This homage to the original Peabody, which closed in 1923, was built two years later in the style of the Italian Renaissance, with all the grandeur of the deep south but with ethnic minorities. Suffering more tragic declines than Blanche DuBois, its faded fortunes were revived in 1981.

If you can’t afford to stay here, you can still enjoy the bar which did brisk under-the-counter business during prohibition, but it won’t be the plush surrounds or the travertine marble fountain that amaze you. Time it right and you’ll witness a sight that has had tourists crowding the lobby since the 1930s with not one call for BBQ sauce.


Every morning at 11am, the poultry wrangler known as the “Duckmaster” escorts one mallard drake and four hens from their penthouse Duck Palace (cost $200,000) on the Plantation Roof, into the elevator and down into the lobby where they waddle in line to the fountain to frolic for the rest of the day until bedtime at five o’clock when it all happens in reverse. Reader, I have watched movie star Nic Cage on the balcony watching the duck parade below, as spellbound as any other out-of-town visitor. That’s how weird and wonderful it is.

If this is making you hungry, you’re in the right place. Southern soul food is another one of the delights of this region. Several blues maestros own music venues serving the local fare. If you head for BB’s (owned by B B King) on Beale Street, a famous centre of African-American music, you’ll get great food and music in the same hit. Forget burgers. We ate cornbread, Jack Daniels-marinaded steak, gumbo and a rack of ribs smothered in sticky BBQ sauce until we were stuffed silly. All washed down with the weak brew which the locals joke gets its flavour from the Mississippi water it’s made from.

If that doesn’t satisfy you, you can try the Elvis Presley restaurant that replicates the menus that ultimately killed the King. Speciality: a loaf halved lengthways and fried in butter, filled with bacon fried in butter with peanut butter, jello (jam), mashed banana and probably a knob of butter. Add a carton of clotted cream and this would be my idea of heaven even if my heartburn would be hell.

Elvis was a local lad made good after he ventured into Sun Studios, round the corner from Beale Street, and caught the ear of owner and producer Sam Phillips. For twelve bucks you can take the studio tour and see where the legends of Carl Perkins, Roy Orbison and Johnny Cash were created. I have a snap of me singing into the very same Epiphone microphone (or one just like it) that Elvis would have used.





Charles Shaar Murray at Sun Studio, Memphis

If you have time, get over to Graceland, Elvis’s famous mansion home. It’s a lot smaller than you imagine. Who knew you could spend half a million dollars in Woolworths?

A sadder story is the one of the other King at the Lorraine Motel in Downtown Memphis. It’s here that Dr Martin Luther King was shot dead on the balcony outside his room by racist loonies eager to keep black people in their place. There’s some controversy attached to the building as it was home for the wretched poor when the decision was made to turn it into a state-of-the-art museum. While the shell has been preserved and King’s room encased in glass, the area behind has been completely rebuilt and the residents evicted. The exhibits include a bus like the one where Rosa Parks, an African American woman, refused to give up her seat for an able-bodied white man, kicking off the Montgomery Bus Boycott and galvanising the Civil Rights movement of which King became a leader. Worth seeing but you may first want to speak to Jacqueline Smith, the last of the motel residents to be evicted and who has mounted a lonely protest outside for twenty years.


If you are a music fiend, you could make a detour to Nashville, home of the po' white folk equivalent of the blues: Country and Western. Otherwise, head south towards New Orleans on the coast of the Gulf of Mexico.

Clarksdale

After 60 miles, where Highway 61 meets Highway 49 just outside Clarksdale, there’s a junction steeped in myth — the biggest one in the whole mythography of music. It’s where the young musician Robert Johnson sold his soul to the devil in order to gain his supernatural guitar skills. It gained him fame, glory and sex for a few years before the devil called in his marker and Johnson was poisoned by the jealous boyfriend of a woman he was seeing. The Crossroads of legend turns out to be several places in the real world as there are different intersections all telling you you’re crossing 49. We were stymied. It’s not like you can trust the gigantic crossed guitars at one of them — even if X does mark the spot — as this was smart advertising for a local business. My advice: pick a place and meditate. It was all invented so you might as well join in. As long as you locate the crossroads deep in your soul …

Squealing like a porker that’s caught a whiff of BBQ sauce, I nearly crashed the car when I spotted the Riverside Inn (now Hotel) just outside town. For this is where singer Bessie Smith breathed her last with her magnificent lungs when it was formerly a hospital for black people in the bad old days of legalised racism.

Smith should rightly be referred to as “legend” rather than mere singer, but we are now in an area renowned for its legends. Throw a rock and you will hit a spot that had something to do with one, whether it be Ike Turner, Sonny Boy Williamson II, Duke Ellington or Robert Nighthawk who all stayed at the Riverside. There must be ley-lines or a spooky alignment of the planets or maybe they put whisky in the water. Whatever it is, I want some.

Clarksdale is a small town — maybe one and a half horse’s worth. But what a history. I stood staring at the tiny single-platform station where mile-long cargo trains trundle past on the Illinois Central Railroad, very slowly but never stopping, with the ghosts of desperate young men showing me how easy it would have been to hop a train north.

Across from the station, the Ground Zero Blues Club: perhaps the most famous of the juke joints, part owned by Morgan Freeman. Outside on the sidewalk, one of the kitchen staff sits on an old armchair for a smoke. Inside, it’s a large square room with a small stage at one end with just enough room to swing a Strat, and a bar running down the side. We drink bourbon and eat ribs followed by peach cobbler and feel like we are in hawg heaven.

Clarksdale’s Delta Blues Museum documents the town’s amazing history and is run by volunteer heroes. Star feature is Muddy Waters’ shack from Stovall Farms where he was a sharecropper before finding fame and fortune with his axe. Son House and Charlie Musselwhite were local lads who also have their own sections in the exhibition.

Three miles from Clarksdale, the Shack-Up Inn is one of the most unusual places I’ve ever stayed at. Occupying a slice of the old Hopson Plantation where the early cotton picker was trialled, it’s an unconventional hotel complex made out of real sharecroppers’ shacks, giving cultural historians an authentic glimpse of the environment that produced the blues. Some might call it misery tourism but there are skint creatives out there looking for a quiet place to think and compose: patrons include Morgan Freeman, Samuel L Jackson, Charlie Musselwhite and the late Ike Turner. None of the cabins are luxurious, although they contain the requisite bathrooms, fridges and fans, and many come with keyboards and sound systems. Trying sitting on the porch in the torpid heat of a southern summer evening, drinking a cold beer with Hooker, Howlin’ Wolf or Waters playing in the background. Ah, magic. Apart from the mosquitoes. They’re just maddening.





Anna and CSM in the Cadillac Shack at the Shack-up Inn, Clarksdale

St Louis

Short of time, we miss New Orleans — home of dixieland jazz and all things Creole — and head back north through Memphis to St Louis, best known for ragtime jazz and a major stopover for the black exodus of the 1920s and 30s. The only obvious landmarks are the Gateway Arch on the West bank of the Mississippi, looking like half a monument to McDonalds, and the gorgeous rail terminus. Union Station’s huge vaulted ceiling is more cathedral than railway station, once the biggest in the world, now the luxury hotel that annoyingly gave up our room despite notice that we’d be arriving late.

We spend our evening at BB’s Jazz, Blues And Soups, a smallish joint which stays open until 2am, and serves pleasant food to some cracking live music.

Chicago

Driving to the Windy City of Chicago, the spiritual end of the Blues Highway, we struggle to find any of the great blues stations we’d listened to on the car radio at the start of our journey. The further north you go the angrier and meaner become the jocks and commentators.

The architecture of central Chicago is fabulous: a creamy Gotham of art deco and waterways. We stay in the Essex Hotel on Lake Shore Drive fronting onto Lake Michigan, in the four-mile part of the city destroyed in the Great Fire of 1871. The rebuilding took place during the wealthiest period in America’s history, when skyscraper construction had just been made possible. No wonder it looks amazing. Except for the Essex Hotel which looks like something constructed in Essex; perhaps Ripple Road in Romford. Luckily, we were on the inside looking out.

The best way to see the sights is to take the tram, touring the El railway, the Sears Building, Wrigley Field stadium, the waterfront, Oprah Winfrey’s modern tower block and the fairground underneath.

Take a cab down town to Chess Records to complete the music tour. Willie Dixon, Etta James, Aretha Franklin, John Lee Hooker, Muddy Waters, Bo Diddley; all the blues giants recorded here. So great was their impact that their effect was felt in Britain, inspiring bands like the Beatles and the Rolling Stones.

Just one last music stop: Buddy Guy’s Legends, serving some of the best food I have ever eaten. Jambalaya, gumbo, frogs legs, ribs, catfish, crawfish etouffée … Mmm, excuse my drool. If you’re lucky, you may get to see the man himself perform. If you’re luckier still, Buddy might even be personally cheffing in the kitchen ...

Music and artists associated with the Delta:
Bessie Smith, Memphis Minnie, Junior Parker, Jimmy Reed, Sam Cooke
Sun Records: Sam Phillips (producer), Elvis Presley, Muddy Waters, Jerry Lee Lewis, Howlin' Wolf, Carl Perkins, Johnny Cash, Roy Orbison, Ike Turner
Chess Records: Muddy and Wolf, Sonny Boy Williamson, Buddy Guy, Chuck Berry, Bo Diddley, John Lee Hooker

Shack Up Inn, Clarksdale
Delta Blues Museum
1 Blues Alley - Clarksdale, MS 38614 - 662-627-6820 
Current Hours - Monday thru Saturday - 10:00 AM to 5:00 PM
Sun Studio, Memphis
Buddy Guy’s Legends, Chicago
Chess Records, Chicago

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

Miết mải một cõi đi về…..

Hoàng Tuấn

Quá nửa đời người miết mải, ông vẫn một mình một bóng đi về trên con đường quen thuộc từ căn hộ ở Thành Công (trước là Hoàng Hoa Thám) lên café Trang ở Hàng Hành, nơi có những người bạn vây quanh, có những khoảnh khắc tĩnh lặng của mầu sắc pha trộn cho bức tranh chiều và trên hết là gặm nhấm dĩ vãng của những cuộc tình, những bắt đầu và những kết thúc, như ông chia sẻ. Một ly café, một điếu thuốc luôn lập lòe dưới chiếc mũ vải mềm phong trần không bao giờ tháo xuống, ông “ngồi một mình, khuấy loãng thời gian”….



“Thân tự lập thân, đào hoa chiếu mệnh”
Quê gốc Quảng Yên – Quảng Ninh nhưng lại đẻ ra ở Phnom Penh – Campuchia (do gia đình theo bố làm tham tán thời Pháp) về Sài Gòn sinh sống một thời gian ngắn rồi quay ra Hải Phòng cho đến năm 18 tuổi thì lên Hà Nội học hành lập nghiệp. Sự xê dịch đó ảnh hưởng khá nhiều tới cuộc sống của họa sỹ Trịnh Thái sau này với nhiều chuyến đi dài bất tử do nghề nghiệp mang lại hay chỉ để gợi cảm hứng sáng tạo. Nó gột lên một hình ảnh Trịnh Thái phong trần, từng trải ở cả hình hài, phong cách sống cũng như trong những mảng mầu trên toan vẽ. Nhưng, ẩn sâu dưới cái dáng vẻ đó lại là tình yêu Hà Nội, sự rung động trước cái đẹp đến mong manh đủ chạm để vỡ. Ông từng kể về một chuyến công tác sang Pháp, ngồi bên dòng Seine mà nhớ hồ Gươm Hà Nội đến da diết, ông đã khóc.
Ở tuổi 71, vẫn nét lãng tử phong trần đó, với đôi kính, chiếc mũ mềm và điếu thuốc luôn đỏ lửa trên môi, Trịnh Thái còn gợi cho người đối diện liên tưởng tới hình ảnh của cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn. Không chỉ bề ngoài, sự nhầm lẫn còn ám ảnh bởi sự thâm trầm, những chiêm nghiệm và câu chuyện về hình ảnh “một nàng kiều” mơ hồ trong sáng tạo nghệ thuật của ông. Giống đến lạ. Ông cười: “Không chỉ ở Việt Nam, tôi sang tận Pháp làm triển lãm cũng có người nhầm với Trịnh Công Sơn. Tôi toàn đùa bảo: Tôi là em của Trịnh Công Sơn, tên là Trịnh Công Cốc”. Đến ngay cả đạo diễn Lê Dân, người đang ấp ủ một kịch bản làm về Trịnh Công Sơn cũng ngỡ ngàng và dù kịch bản còn dang dở, ông đã đưa ngay cho họa sỹ Trịnh Thái đọc với lời mời nếu dự án thực thi thì vai Trịnh Công Sơn chắc chắn phải do Trịnh Thái đảm nhận. Trịnh Công Cốc, như một cái tên tự nhận ám ảnh cho một khía cạnh khác của họa sỹ Trịnh Thái “thân tự lập thân, đào hoa chiếu mệnh”.


Café Trang chỉ cách café Nhân một tầm tay với, nơi treo hai bức tranh về Hà Nội của ông là Phố mưa và Hoa sưa. Xa hơn một chút, qua vòng hồ Gươm là café Lâm ở Nguyễn Hữu Huân, nơi có khoảng 50 bức tranh của ông được sưu tầm. Đó đều là những địa chỉ một thời quen thuộc nhưng mấy chục năm qua, dù nhà ở Hoàng Hoa Thám đã chuyển tới tập thể Thành Công, họa sỹ Trịnh Thái vẫn chọn quán quen nho nhỏ này cho hành trình thức dậy vào buổi sáng. Chưa chắc ở đây đã nhiều bạn hữu hơn nhưng chắc chắn một điều, ở đây có quá nhiều kỷ niệm, với những người phụ nữ đã đi qua cuộc đời. Quá nửa đời người với những nhịp đập tình yêu từ gấp gáp vội vàng cho đến những rung động bình thản, ấm áp đều có điểm khởi đầu hay kết thúc ở đây - ấy là ông tự nhận thế. Cách đây 5 năm, người con gái hàng ngày vẫn ngồi cùng ông ở quán nhỏ này cũng đã ra đi đột ngột. Tròn 5 năm – nỗi ám ảnh về sự cô độc hoang hoải mà ông luôn nhắc lại trong cuộc trò chuyện đến bây giờ ông mới lấy lại cân bằng. Ở tuổi 71, ông lại yêu. Ông bảo rằng mình cảm giác đây là cuộc tình cuối. Bao nhiêu cuộc tình đã qua đều đổ vỡ dù tất cả cùng xuất phát từ tình yêu chân thành, sự nghiêm túc để dẫn đến hôn nhân nhưng có lẽ cuộc đời ông là vậy, không ai biết trước được điều gì, mối tình hiện tại cũng vậy, sợ nói trước bước không qua, nên cứ để số mệnh tự xoay vần....
Số mệnh quả là đã xoay vần khi những tình yêu của ông chỉ nở hoa mà không hề đậu quả. Trẻ trung và sôi nổi của tuổi trẻ rồi cũng qua với những mối tình từ Bắc tới Nam, từ chuyện tự ái vặt rồi chia tay hay không đủ bản lĩnh vượt qua áp lực do gia đình ngăn cấm. Đến cả mối tình ông và cô ấy cho là duyên số trời định thì ông trời cũng lấy đi mất. Ông bảo: “Đó là bộ phim đầu tay của tôi, đạo diễn yêu cầu tìm một diễn viên vào vai chính. Tôi thích một cô gái ở phố Đinh Liệt và dẫn đến ra mắt đạo diễn nhưng không hợp. Và vô tình tôi gặp cô ấy, đẹp chân chất và vừa tốt nghiệp trường múa ra. Tuy vậy, tôi đã bị bỏ bùa ở một hình bóng khác dù thời điểm đó, cô ấy rất thích tôi. Rồi chúng tôi đi mỗi người mỗi ngả, va vấp qua nhiều cuộc tình, quá nửa đời người mới gặp lại nhau và cảm nhận trọn vẹn tình yêu cho nhau. Cô ấy định cư ở Mỹ, nửa năm lại về Việt Nam sống với tôi, cùng tôi ngồi ở quán nhỏ này. Tôi đã bán nhà ở Hoàng Hoa Thám đi để thuê một ngôi nhà lớn hơn cho cô ấy ở cho thoải mái và tính chuyện lâu dài. Thế nhưng, cuối cùng thì cô ấy lại bỏ tôi ở lại một mình…”. Một mình, lại thân tự lập thân, cách đây 2 năm ông chuyển về ở căn hộ tập thể ở Thành Công như ông kể là “đó là nhà người em ruột ở Hải Phòng mua cho hai đứa con gái học đại học ở Hà Nội nhưng chúng nó lập nghiệp nơi khác. Em tôi bảo, thôi anh về đó sống trông nhà cho em cho đến khi cuối đời. Nhà rộng, 4 phòng đủ cả phòng khách, phòng ngủ, phòng vẽ và phòng bếp nơi tôi tự tay nấu nướng vào buổi chiều”.

Bỏ người tình, về với vợ
Gắn bó với điện ảnh hơn 30 năm với vai trò thiết kế mỹ thuật của hơn 40 bộ phim, trong đó nhiều tác phẩm đã đi vào lịch sử điện ảnh Việt Nam như Rừng O Thắm, Vỹ tuyến 17 ngày và đêm, Ngày lễ thánh, Trở về Sam Sao, Biệt động Sài Gòn, Săn bắt cướp…. Họa sỹ Trịnh Thái là một trong 3 người đầu tiên đặt nền móng cho thiết kế mỹ thuật điện ảnh của Hãng phim truyện Việt Nam cũng như điện ảnh Việt thời kỳ đầu. Những thiết kế của ông đậm vốn sống thành thị và gần như ngược lại với nét lãng tử bên ngoài, trong công việc, nét tỉ mỉ, cầu toàn của ông đều có thể nhận thấy trong từng đạo cụ, bối cảnh phim. Người trong nghề nhắc đến ông là nhắc tới hai bộ phim Vỹ tuyến 17 ngày và đêm cũng như 4 tập phim Biệt động Sài Gòn với những bối cảnh phim tái hiện tới từng chi tiết sống động. Tuy vậy, năm 1995, ông quyết định nghỉ hưu, rời xa phim trường với câu nói mà ông luôn khẳng định cho tới tận bây giờ: “Điện ảnh chỉ là người tình, hội họa với là vợ. Đã đến lúc tôi dành hết tâm huyết cho người vợ của mình”.
Lật lại quan điểm với những ký ức tuổi thơ, họa sỹ Trịnh Thái còn nhớ như in lời phê của thầy giáo trong sổ học bạ khi học cấp 1: “Ngồi trong lớp không chịu nghe giảng, hay xé giấy vẽ bậy”. Cũng may, cha ông, một kỹ sư trắc địa mê hội họa đã nhận thấy năng khiếu và đam mê của cậu con trai nên định hướng theo nghề vẽ. Năm 18 tuổi, ông khăn gói rời Hải Phòng lên Hà Nội thi vào trường Mỹ thuật công nghiệp, theo đuổi hấp lực từ những bảng mầu. Người cha đã hoàn toàn đúng đắn, cậu con trai Trịnh Thái đỗ ngay khóa đầu tiên của trường.
Cái duyên của điện ảnh bắt đầu đến từ đây dù khi còn bé ông cũng như bao đứa trẻ khác mê mẩn với những tác phẩm được gọi là cinema dù không hề hiểu về công việc của những người tạo ra thứ hấp lực đó. Năm thứ 2 theo học, Bộ văn hóa mở lớp họa sỹ điện ảnh đầu tiên do chuyên gia Liên Xô sang dạy. Cả nước chọn ra được 12 người và cậu sinh viên Trịnh Thái có tên trong lớp. Rơi rớt còn 8 người theo học cho đến khi tốt nghiệp năm 1964, ông cùng hai họa sỹ Phạm Quang Vĩnh, Nguyễn Ngọc Tuân (đã mất) chính thức về Hãng phim truyện Việt Nam với vai trò thiết kế mỹ thuật phim truyện.
Nếu người họa sỹ chỉ cần làm chủ mảng mầu, phác được ý tưởng và cảm xúc thì nghề thiết kế mỹ thuật đòi hỏi người họa sỹ phải dày về vốn sống, làm chủ được bối cảnh, tỉ mỉ và tư duy về tạo hình phải cao. Họa sỹ Trịnh Thái cười khi nhớ lại những câu chuyện làm phim thời bao cấp, ông bảo, cái gì cũng khó khăn, ngoài những yếu tố căn bản cần phải có của người thiết kế mỹ thuật thì sự sáng tạo, ứng biến cũng là yếu tố rất lớn mang đến sự thành công. Kỷ niệm thì nhiều lắm, càng khó khăn thì càng nhiều kỷ niệm. Ông vẫn nhớ chuyện về làm phim Vỹ tuyến 17 ngày và đêm của đạo diễn Hải Ninh, làm năm 1971. Thời điểm đó, đất nước vẫn còn chia cắt mà bối cảnh trong phim phải tái hiện cuộc sống ở bên kia bờ Bến Hải. Trước đó, bộ phim đầu tiên Chung một dòng sông cũng có tái hiện những hình ảnh đó nhưng rất sơ sài. Ngoài những tài liệu mật được tham khảo thì ông cũng nhiều lần được người của mình đưa ra hầm ở Cửa Việt – Gio Linh vào buổi tối, nhờ ánh đèn điện hắt sang từ thị xã Quảng Trị để “tận mục sở thị”. Chỉ có vậy, nhưng với sự sáng tạo và tỉ mỉ của mình, ông đã đem lại sự chân thực lớn cho việc tái hiện lại cuộc sống của đồng bào mình bên kia bờ Bến Hải – điều được kiểm chứng sau khi hòa bình. Sau này, những bộ phim thời hòa bình dễ dàng hơn, cũng có điều kiện hơn để ông có thể làm tốt công việc của mình cũng như bồi đắp thêm vốn sống. Như bộ phim Ngày lễ thánh của đạo diễn Bạch Diệp, với vai trò thiết kế mỹ thuật cho phim, lần đầu tiên ông – một nam giới được bước vào khám phá thế giới nhà tu kín. Hay như Biệt động Sài Gòn, ngoài những tư liệu hiện vật, hình ảnh, ông còn được “nằm vùng” ở Sài Gòn đến 4 năm để tái hiện lại thành phố này thời điểm Mỹ - Ngụy chiếm đóng không chỉ ở bối cảnh mà cả văn hóa đường phố của người dân. Vốn sống, sự quen tay đã dày, những bộ phim cứ cuốn ông đi hết vùng đất này đến vùng đất khác. Người ta biết đến ông nhiều hơn, gọi ông là Nhà thiết kế mỹ thuật điện ảnh Trịnh Thái và với những đóng góp to lớn cho điện ảnh, ông cũng được nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sỹ ưu tú.
Tuy vậy, con người họa sỹ trong ông vẫn lầm lũi song hành ở những quãng thời gian khác. Rời phim trường, ông lại âm thầm miệt mài bên giá vẽ. Ông vẽ nhiều, đủ thể loại đề tài từ chân dung, phong cảnh, tĩnh vật đến trừu tượng trên hai chất liệu ông cho là thế mạnh của mình là sơn dầu và lụa. Năm 1988, tại Sài Gòn, nơi ông đang cùng đạo diễn Trần Phương làm bộ phim Săn bắt cướp, họa sỹ Trịnh Thái có triển lãm đầu tiên của mình. Triển lãm được đánh giá cao trong con mắt của đồng nghiệp bạn bè càng tiếp thêm cho ông động lực sáng tạo. Những triển lãm cá nhân, nhóm lần lượt được ra mắt tại Hà Nội, Pháp, Canada, Phần Lan…với những đón nhận và lời mời thôi thúc niềm đam mê thật sự khiến ông đi đến quyết định cuối cùng: rời bỏ điện ảnh, tập trung cho hội họa. Năm 1995, ông viết đơn xin về mất sức, hàng ngày làm bạn với giá vẽ. Cứ 2-3 năm, ông lại có một triển lãm, mỗi lần khoảng 50 bức. Đến thời điểm này, ông đã có tới 14 triển lãm cá nhân và sang năm là triển lãm lần thứ 15 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tranh của ông lãng mạn, tông xanh ghi chủ đạo đượm màu bàng bạc nhưng lại toát nên nét trẻ trung, một hồn cách riêng không pha trộn. Tranh của ông có giá nhưng tính cách thoáng trong giao tiếp nhiều lần khiến bạn bè phàn nàn rằng ông “phá giá thị trường”. Ông đùa bảo, cũng tùy người, tùy quan hệ, cái người thì bán, có người thì tặng, cuộc sống mà….
Cuộc sống mà… Đó cũng là câu ông hay nói trong buổi trò chuyện. Ông bảo rằng, cho đến bây giờ ông vẫn sống và tôn thờ thuyết tương đối. Không ai tuyệt đối được, ông cũng vậy, về nghề, về sống cũng tương đối mà thôi. Ông hài lòng với bản thân và thực tại. Trên chiếc supper cup đời 82, cuộc sống của người đàn ông độc thân 71 tuổi này là sáng sáng chạy lên quán café quen thuộc. Buổi trưa lang thang bia bọt với bạn bè và buổi chiều, tối dành thời gian bên giá vẽ. Tự nhận mình nấu ăn rất giỏi, từng viết nhiều bài báo về ẩm thực Hà Thành nên mỗi buổi chiều tự tay nấu nướng, với ông – đó vừa là nhu cầu, vừa là một thú vui. Trung bình một ngày hút gần hai bao thuốc, như một thói quen khó bỏ; luôn tự nhận mình chỉ là gã “thực tập bia rượu” trong các cuộc nhậu bởi đơn giản “họ còn có vợ con lo lắng, mình say về, ai lo” và chân lý sống là hòa nhã, tử tế với mọi người xung quanh. Ông thừa nhận, cuộc sống giờ loanh quanh chỉ có vậy, nhìn ngoài thì cám cảnh nhưng thật sự ông luôn có những niềm vui trong những va đập mà vòng quay đó mang lại. Ngay cả tình yêu mới cũng vậy. Chả thế, một nhóm làm phim truyền hình muốn làm phim về ông “để dối già” như họ thân tình nói thẳng thì ông trả lời: “Thôi, các cậu tìm cụ khác đi, tớ còn trai tân, còn yêu đời lắm”….
------------
Theo: "Thế giới Điện ảnh"

Chân dung nghệ sĩ: 

NSƯT - Hoạ sĩ Nguyễn Trịnh Thái

Họa sĩ Trịnh Thái lớn lên trên đất cảng Hải Phòng. Ông từng nghe cha mình kể lại rằng, ông biết xé giấy dán tranh trước khi biết đọc chữ A,B,C. Có lẽ, bởi sớm phát hiện được năng khiếu của con nên cha ông đã cho ông đi học vẽ từ rất sớm. Chính cha ông là người đã đưa ông lên Hà Nội để thi vào Trường đại học Mỹ thuật. Ngày ông đỗ vào trường, cha ông mừng khôn xiết vì dường như những ước mong của cha con ông sắp đến ngày gặt hái.

 NSƯT - Hoạ sĩ Nguyễn Trịnh Thái 
Có một họa sĩ, người mà tên tuổi của ông đã được những người trong giới ghi nhận bởi sự cẩn trọng, chi chút và yêu nghề. Ông là Nguyễn Trịnh Thái, họa sĩ thiết kế của những bộ phim đã đi vào lịch sử điện ảnh nước nhà như: "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm", "Biệt động Sài Gòn", "Mẹ vắng nhà", "Cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn", "Vụ án đêm cuối năm", "Câu chuyện làng dừa", "Ngày lễ thánh", "Săn bắt cướp", "Khách ở quê ra"...
Quán cà phê ngõ Hàng Hành ở phố cổ Hà Nội là địa chỉ mà bất kể sáng nào, dù nắng dù mưa, họa sĩ Nguyễn Trịnh Thái cũng phóng xe máy từ khu tập thể Thành Công tới ngồi nhâm nhi ly cà phê đen đá. Ở đó, có khi ông gặp những người bạn quen hồi làm việc ở Hãng Phim truyện Việt Nam cùng ngồi tán chuyện, có khi ông chỉ ngồi một mình nhìn phố xá đông đúc người xe qua lại, để cái cảm giác cô đơn vợi đi chút ít trong tâm hồn người đàn ông ngót 70 tuổi sống một mình quá lâu trong căn nhà toàn tranh là tranh.
Họa sĩ Trịnh Thái sinh ra và lớn lên trên đất cảng Hải Phòng. Ông từng nghe cha mình kể lại rằng, ông biết xé giấy dán tranh trước khi biết đọc chữ A,B,C. Có lẽ, bởi sớm phát hiện được năng khiếu của con nên cha ông đã cho ông đi học vẽ từ rất sớm. Chính cha ông là người đã đưa ông lên Hà Nội để thi vào Trường đại học Mỹ thuật. Ngày ông đỗ vào trường, cha ông mừng khôn xiết vì dường như những ước mong của cha con ông sắp đến ngày gặt hái. Con đường làm nghệ thuật đang trải rộng trước mắt thì đùng đùng, Nguyễn Trịnh Thái rẽ ngang vào điện ảnh. Ông tiếp tục thi vào Trường Sân khấu - Điện ảnh, chọn làm một công việc mang tính tập thể là... lang thang cùng các đoàn làm phim nay đây mai đó để tìm bối cảnh cho những bộ phim.
Ông bảo rằng, vẽ là công việc tự thân, khi đã có năng khiếu, có niềm say mê, có nghề thì bất kể tuổi nào cũng làm được, còn đi làm phim là cơ hội không phải lúc nào cũng đến với mình. Kể từ ngày ấy, Nguyễn Trịnh Thái say mê đọc các tập kịch bản văn học, kịch bản phân cảnh, cùng trao đổi ý tưởng hình thành bộ phim với đạo diễn.
Ông tâm sự: "Đạo diễn sẽ phải trình bày cách thể hiện, cùng trao đổi, xây dựng cá tính nhân vật cùng họa sĩ thiết kế. Ví dụ một nhân vật nam nóng tính thì sẽ sử dụng những màu có vẻ thô kệch một chút, sử dụng những màu nóng, kiểu dáng trang phục hơi thô ráp... Để làm nổi bật tính cách nhân vật này, kinh nghiệm của họa sĩ thiết kế là vô cùng quan trọng. Họ sẽ cùng đạo diễn "phát hiện" ra nét chính nhất của nhân vật, gắn họ với số phận và thực tế cuộc sống để các cảnh quay thuyết phục hơn.
Một trong những khâu vất vả nhất trong công đoạn thiết kế bối cảnh cho một bộ phim là đi chọn cảnh. Một ngày, đạo diễn và họa sĩ thiết kế có thể đi đến vài chục hoặc hàng trăm cây số để tìm ra những cảnh phù hợp để đặt máy. Có những bối cảnh họ không sử dụng được cho phim của mình nhưng việc đi thực tế sẽ cho họa sĩ thiết kế, đạo diễn rất nhiều tư liệu quan trọng về cuộc sống thường nhật. Trong quá trình này, những cảnh đã được hoạch định trên giấy có thể được sửa đổi. Không thể đưa chiếc xe ôtô của những năm 40 vào một bộ phim miêu tả cuộc sống cách đây 10 năm hay ngược lại. Khó nhất là dựng bối cảnh cho phim lịch sử, họa sĩ thiết kế buộc phải làm công việc tìm hiểu cực kỳ khó nhọc và cẩn trọng. Chẳng hạn như hồi làm phim về Lực lượng Công an: "Cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn", đích thân tôi cùng đạo diễn Nguyễn Khắc Lợi phải đến gặp Thượng tướng Trần Văn Trà, nhà văn Lê Tri Kỷ để xin gặp gỡ nhân chứng rồi tìm hiểu cụ thể các chi tiết về trang phục, cách đi lại, nói năng của từng đối tượng, từ lính ta, lính ngụy, cho đến lính Tây hay diễn biến của từng trận chiến đấu để dàn dựng làm sao cho bối cảnh phù hợp.
Tôi nhớ nhất là hồi làm phim "Biệt động Sài Gòn". Hôm ấy quay cảnh người của ta đánh bom địch ở khách sạn Caraven. Thực ra, khi hòa bình lập lại, khách sạn này vẫn còn nhưng đã đổi tên thành "Độc lập". Để phản ánh chân thực lịch sử, chúng tôi phải tạo được bối cảnh như những năm thuộc địa. Tôi thuê một nhóm bạn của mình thiết kế chữ "Caraven" kiểu cổ với kích thước khổ lớn 2x3m. Chúng tôi đã mời đến trường quay (chính là tầng 1 khách sạn Độc Lập) các kỹ sư dầu khí của Nga, quần áo chỉnh tề để vào vai lính Mỹ và hơn 500 vai quần chúng chờ sẵn để đến khoảng 5h chiều thì bắt đầu bấm máy. Lúc đó, tôi vẫn chưa thấy các ông bạn "vàng" của mình mang chữ đến. Gọi điện thì nhận được câu trả lời rất phũ phàng: "Bọn tao tiêu hết tiền rồi, nên không đủ tiền làm chữ cho mày nữa!". Tôi nghe như  sét bên tai, nhưng không biết làm cách nào, mình tin bạn thì phải chịu thôi. Lúc đó, chỉ còn cách tôi phải bỏ tiền túi và chạy ra mấy cửa hàng cắt chữ xốp và xì sơn lên để kịp gắn biển quay đại cảnh. Lần đó, tôi được phen hú vía mà giờ nghĩ lại, vẫn thấy chưa hết…sợ!".
Đối với họa sĩ Trịnh Thái, tuy làm nhiều phim nhưng với những thành công của phim "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm" (Đạo diễn Hải Ninh), một trong những bộ phim đã trở thành mốc son của điện ảnh nước Việt Nam, đã mang lại cho ông nhiều niềm hạnh phúc ngoài sức tưởng tưởng. Với ông, đây là bộ phim khó nhất vì phải tái hiện cả một khung cảnh chiến tranh giữa bờ Nam, bờ Bắc ngay trên mảnh đất hòa bình. Tạo được bối cảnh cho hiện thực là vô cùng vất vả và đòi hỏi người họa sĩ phải suy nghĩ rất nhiều để tìm ra một cách xử lý phù hợp.
Ông kể: "Tôi nhớ nhất vào một sáng sớm mùa đông quay ở Hải Hậu (Nam Định), trời rét cắt da cắt thịt, đạo diễn Phạm Văn Khoa mời những người bạn văn của mình là nhà văn Nguyễn Tuân và nhà văn Kim Lân từ Hà Nội xuống xem diễn. Vì lạnh quá, các nhà văn phải vừa quấn chăn bông lên người vừa xem, còn nghệ sĩ Trà Giang vẫn phải lội xuống nước để quay cảnh gặp chồng. Rất may là cảnh đó chỉ diễn một đúp đã hoàn thành, nếu không, chắc nghệ sĩ Trà Giang không chịu nổi... Buổi sáng đó, khi đã quay xong, chúng tôi ngồi cạnh nghe lỏm các cụ nói chuyện với nhau, các cụ khen diễn viên diễn tốt, đạo cụ và bối cảnh phù hợp, rất thật. Các anh chị em trong đoàn cứ âm ỉ sướng. Bởi vì hồi đó, được các cụ nhà văn như Nguyễn Tuân, Kim Lân mà khen thì còn gì bằng!".
Thống kê các phim mà NSƯT Nguyễn Trịnh Thái đã làm họa sĩ thiết kế có lẽ khó mà nhớ hết. Bản thân ông, ông tự nhận mình chỉ đơn giản là một người yêu nghề và luôn cố gắng không để bất cứ một sai sót nào thuộc về chuyên môn của mình mà lại ảnh hưởng tới cả một tập thể. Trên thực tế, cuộc đời làm phim nay đây mai đó đã mang lại cho cuộc sống của ông nhiều điều thú vị. Đó là những hôm đạp xe đi thực tế dưới đạn bom cùng những người bạn như đạo diễn Bạch Diệp, đạo diễn Vũ Phạm Tuân, vui, hăng say và không hề ngại ngần tới những hiểm nguy đang rình rập. Có những hôm, đang đi thì có tiếng máy bay trên đầu, cả ba người vứt xe sang một bên, nằm im không nhúc nhích. Lần khác thì cả ba lại lao xe xuống ao, chờ máy bay bay qua mới nhờ bà con vớt xe, đỡ người lên mặt đất. Ấy vậy mà đã mấy chục năm trôi qua.
Giờ đây, những người ở thế hệ ông đã mỗi người một số phận. Với Nguyễn Trịnh Thái, nghề nghiệp đã mang lại cho ông những danh hiệu, những giải thưởng và những niềm vui, nhưng cũng lấy đi của ông không ít những nghĩ suy, trăn trở. Ông bảo, ông có hàng trăm người bạn tốt, nhưng giờ đây, ở tuổi 70 lại không có một người đàn bà bên cạnh để đỡ đần sớm tối. Ngày hai bữa ông tự nấu ăn cho riêng mình rồi lại tìm niềm vui trong cậy cọ vẽ. Ông còn hát một câu nhạc Trịnh Công Sơn rất quen thuộc như đã là câu cửa miệng để an ủi chính mình: "Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ"...
Thực ra, tìm hiểu lâu tôi mới biết, một trong những lý do khiến ông hay ngồi ở quán cà phê ngõ Hàng Hành bởi vì đây là nơi chôn sâu bao kỷ niệm của mối tình đầu, cũng là mối tình đã làm ông mất thăng bằng trong nhiều ngày tháng khi người tình của ông đã vĩnh viễn ra đi vào cõi vĩnh hằng vì một căn bệnh hiểm nghèo. Đó là mối tình đẹp giữa ông và cô gái đóng O Thắm trong phim "Rừng o Thắm" (Đạo diễn Hải Ninh). Ông là một họa sĩ đa tình nhưng cũng rất đa đoan. Ông luôn hướng tới cái đẹp nhưng cũng có lòng yêu thủy chung son sắt. Ông là người biết cẩn trọng tính toán cho từng chi tiết, đạo cụ, bối cảnh để phù hợp với từng bộ phim khác nhau, nhưng lại không biết tính toán cho cuộc đời mình, dù ông như cái đồng hồ báo thức vẫn luôn dậy vẽ từ 5 giờ sáng rồi lại bắt đầu lúc 3 giờ chiều để chuẩn bị cho triển lãm tranh lần thứ 14. Ông bảo, trong tình duyên, ông không phải là kẻ cầu toàn nhưng bị... giời đày nên mới đa tình, đa đoan, cứ mải miết đi tìm và càng tìm càng thấy... vô tận. Ở tuổi 70, ông khẳng định rằng, dù không còn trẻ nữa, nhưng nếu tìm được một cô gái ông yêu và yêu ông thật lòng, ngay lập tức, ông sẽ cưới làm vợ!

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2012

Họa sĩ Nguyễn Đăng Phú

Lê Tâm

Nguyễn Đăng Phú lừng lững mét bảy nhăm, bảy mươi nhăm ký, như lực sĩ thể hình.
Nhác trông cứ ngỡ khủng long
Lại gần té ngửa là ông vẽ vời
Triển lãm giải thưởng khắp nơi
Vẽ được như thế cũng ngời ngời khủng long.
Anh em tếu táo trêu ông bằng vè như thế, nhưng thực ra gọi là khủng long cũng không ngoa. Khủng long vẽ, hay còn gọi là vua áp phích. Ấy là cái danh do anh em trong giới phong cho ông khi thấy ông nhận không biết bao nhiêu giải thưởng áp phích trong nước và quốc tế.

Họa sĩ Nguyễn Đăng Phú

Ước mơ đến từ biển
Sinh năm 1947 ở Hà Nam, nhưng lớn lên và trưởng thành ở Hải Phòng nên gọi ông là người Hải Phòng còn chính xác hơn. Thuở nhỏ, cậu bé Nguyễn Đăng Phú đã có tiếng ở tài vẽ khéo. Học phổ thông lại phát về thơ phú, trúng vào đại học (khoa Ngữ văn), nhưng không theo. Vì vẽ mới khoái.
Suốt tuổi thơ gắn với đất cảng và vùng duyên hải, cảm quan nghệ thuật của Nguyễn Đăng Phú được bồi đắp cùng khát vọng như biển, phóng khoáng và mạnh mẽ.
Chiến tranh phá hoại, Phú từ Trường Ngô Quyền sơ tán về Vĩnh Bảo. Cứ sáng học, chiều đi ký họa chân dung. Mà kiếm được tiền bằng món này. Thời đó học sinh phổ thông kiếm được tiền chia sẻ với lũ nhất quỷ nhì ma cũng được gọi là hoàng đế rồi.
Rồi Phú quyết thi vào học Mỹ Thuật Hà Nội, tốt nghiệp Trung cấp Mỹ thuật, lại về làm báo Hải Phòng. Công việc là đi nhà in và vẽ áp phích, ký họa, vẽ tranh tường thuật không khí chống Mỹ của nhân dân đất cảng.
Nghĩ lại bây giờ mới kinh chứ hồi ấy trẻ, xông pha ngán gì. Hồi ấy, có trận bom ở đâu là anh em phải đưa tin ngay, phóng viên lễ mễ máy ảnh, Phú thì cắp nách bảng vẽ đạp xe tới hiện trường.
Những bức ký họa nhanh nóng hổi vì khi vẽ khói bom vẫn còn ngùn ngụt. Tất cả những sự thật của chiến tranh cần cho nhân dân biết không chỉ là hình ảnh mà còn là cảm xúc, sự căm thù nữa. Cô bạn gái hồi đó sơ tán tận Đoan Hùng thỉnh thoảng về thăm Phú muốn được ở bên nhau lâu, nhưng Phú nói phải đi vẽ, không thể đổi kế hoạch được, làm cô ấy giận hàng năm trời.
Trong cái thời bom đạn mà người ta không dám chắc độ dài của cuộc sống của mình đảm bảo trong bao lâu thì họa sĩ Phú vẫn tin vào một điều mong manh về một thế giới nghệ thuật sẽ biết đến tên mình. Thế giới đó có thể gần và có thể rất xa.
Những lần đi vẽ đến Đồ Sơn hay những cửa biển, nhìn tận mắt thủy lôi nổi lập lờ của Mỹ, bên cạnh cảm giác rùng mình với cái chết đâu đó thì trước mắt Phú, ngoài khơi xa, không chỉ có lũ giặc trời F105, F4 lao vào oanh tạc mà còn có những bờ bến của những xứ sở tươi đẹp với nền nghệ thuật rực rỡ. Phú cặm cụi học tiếng Nga và học giỏi môn này, anh thường đặt sách ngoại văn để mở mang tầm nhìn.
Sau hiệp định Paris, chấm dứt ném bom miền Bắc, một mẩu tin về cuộc thi áp phích trên tờ Lapolone của Ba Lan đã làm Phú mừng như vớ được vàng. Phú quyết ứng thí. Nhưng theo một con đường rất trực tiếp là gửi qua một người quen làm nấu bếp cho đại sứ quán Ba Lan.
Bắt đầu từ đó là căng mắt dõi theo tạp chí có in tên mình không. May quá, nghệ thuật áp phích đã không bỏ rơi Phú. Một thông báo trân trọng về giải thưởng đã được đăng tải trên tờ Lapolone. Không chỉ Phú mà cả gia đình và cô bạn gái hồi hộp.
Ngày nhận giải còn hồi hộp hơn nữa. Không có điều kiện trao trực tiếp nên giải thưởng quốc tế này đã tự về Hải Phòng qua bưu điện. Chầu trực ở bưu điện từ lúc chưa có ma nào xuất hiện cho đến khi cô bưu điện mở khóa, Phú căng thẳng khi bưu điện tìm mãi hàng giờ không thấy, rồi nó được tìm thấy trên đỉnh kệ do người phân loại đã đặt riêng rồi quên luôn.
Tiếng reo vui bất tận. Đó là một kiện hàng dài cỡ 1m, không nặng lắm nhưng đương nhiên là quý hơn bạc vàng. Cả gia đình, nội tộc khoảng 2 chục người mặc tươm tất chờ sẵn chật sân, ngõ để chờ Phú phóng xe đèo giải về "vinh quy bái tổ". Tất cả đề nghị ông bác cao tuổi nhất là người nhận trọng trách khai kiện.
Khi mở ra, tất cả lặng đi một lúc rồi ồ lên ngán ngẩm. Giải thưởng là một chiếc rìu kiểu hoàng tộc Ba Lan. Thời ấy đói vàng mắt nên cũng có ý kiến là: Giá được cái xe đạp có phải hơn không; giá chục mét vải thì hay...
Tất nhiên vì chiếc rìu này mà gia đình đã chi kha khá cho bữa cơm "dưa muối" khao họ hàng. Nhưng không sao. Cái rìu này là một cú huých quan trọng với một họa sĩ mới 26 tuổi. Nó nói rằng: Vinh quang này đã gọi tên họa sĩ Nguyễn Đăng Phú. Từ đó, với năng lượng từ cây rìu trung cổ, tiều phu Nguyễn Đăng Phú đã liên tục bội thu giải thưởng trong nước và quốc tế. Đó là tấm huân chương cao quý nhất trong đời.
Sau này, Nguyễn Đăng Phú tiếp tục được xướng tên trong các kỳ triển lãm quốc tế khác như giải thưởng của Hội Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế tại Liên Xô 1981 và Huy chương Đồng tạo Triển lãm đồ họa quốc tế Bruno, Tiệp Khắc 1986, trong giải đề là được 60 ngàn cuaron nhưng bị thất lạc. Tiếc thế, nếu không thì đã có cả một chiếc xe máy Java con thỏ.
Bây giờ chẳng ai coi xe máy vào đâu, nhưng những năm 80, có xe máy là vua. Giải Liên Xô 1981 thì thênh thang: Một bộ bút lông, một hộp sơn dầu, một tập giấy vẽ, một bộ quần áo nỉ. Đặc biệt, một hộp màu nước Leningrad êm ái lịm tim mới là đỉnh cao mơ ước. Ở ta bói không có mà mua, hoặc phải chịu giá cắt cổ. Hồi ấy, anh em đi xuất ngoại mới có thể mua được món này.

Áp phích được huy chương đồng Triển lãm Đồ họa quốc tế (Bruno, Tiệp Khắc 1986).

Ngoài thành tựu quốc tế thì Nguyễn Đăng Phú đã được Mỹ thuật Việt Nam tôn vinh như: 4 áp phích được Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam sưu tập lưu giữ. Các giải thưởng tranh cổ động toàn quốc, 5 lần được Xưởng Tranh cổ động trung ương và Cục Mỹ thuật in ấn phát hành rộng rãi. Nhiều lần nhận giải thưởng cho minh họa. Anh minh họa cho đến 27 đầu báo. Vẽ khỏe như lực sĩ.
Sau này, ông có dịp làm việc ngót chục năm tại Ba Lan thì điều kiện hành nghề đã hết khó khăn và quan trọng là học và làm việc tại châu lục có nền đồ họa phát triển. Không chỉ sáng tác, về nước, ông còn dành nhiều tâm huyết để chỉ dạy cho các học trò tại Việt Nam.
Áp phích của Nguyễn Đăng Phú được người xem đánh giá cao vì ông có tư duy cởi mở. Cũng nhờ ngoại ngữ tốt, tiếp xúc với nhiều cửa sổ quốc tế nên không bị sáo mòn theo mẫu thức: "Trời xanh mây trắng lúa vàng/ Công nông binh đứng thẳng hàng tiến lên". Tranh của ông thường dùng những biểu tượng cụ thể cô đọng chạm vào trái tim người xem gây cảm xúc. Bức tham gia tại Tiệp Khắc 1986 là một thí dụ.
Dòng chữ "Hòa bình là lẽ sống" có sức mạnh cắt đôi quả bom, nửa đuôi của quả bom điểm thêm mỏ và mắt thành chim bồ câu trắng bay lên được đánh giá rất cao. Hay bức "Hút thuốc là tự sát", năm 2004, ông vẽ một khẩu súng colt mà mỗi viên đạn là một điếu thuốc cháy dở, rất rùng rợn. Có người hỏi ông có hút thuốc không? Ông cười lớn: Không hút thuốc làm sao hiểu được nó nguy hiểm đến thế nào. Ông có tin người nói về chiến tranh mà không qua bom đạn không? Bây giờ thì chừa rồi, ha ha!

Cha đẻ của "thiên tài"
Cả hai vợ chồng đều làm nghề mỹ thuật, từ Hải Phòng về được Trường Mỹ thuật cấp cho cái trái nhà 6 thước vuông. Mừng húm. Còn mơ gì hơn nữa. Đó là một vương quốc rồi.
Xin mượn câu thơ của Lưu Quang Vũ để ký họa "lâu đài" vĩ đại của Phú: "… Nhà chỉ mấy thước vuông, sách vở xếp cạnh nồi/ Nếu nằm mơ, em quờ tay là chạm vào thùng gạo/ Ô tường nhỏ treo tranh và phơi áo/ Ta chỉ có mấy thước vuông cho hạnh phúc của mình…/ … Khoảng không gian của anh và em/ Khi buồn bã em không thể quay mặt đi nơi khác/ Anh không giấu em một nghĩ lo nào được/ Ta chỉ có mấy thước vuông để cùng khổ cùng vui…"
Từ mấy thước vuông ấy, những cậu con trai đã lần lượt chào đời. Bố Phú đã đặt tên con theo mơ ước của mình. Đó là Nguyễn Đăng Gô Ganh (theo tên danh họa P. Gauguin), Nguyễn Đăng Sô Panh (theo tên thiên tài âm nhạc F. Chopin) và sau là Nguyễn Đăng Anh Xtanh (Nhà bác học A. Einstein).
Nhà chật, tranh vẽ xong không có chỗ treo, nhiều khi phải đút gầm gường, thế là nó không tránh khỏi bị những “vĩ nhân” Gô Ganh, Sô Panh tè vào. Nhưng không sao. Thế cũng là nghệ thuật nhập thế vào đời sống. Phải cái, khi nhập hộ khẩu, những cái tên của “vĩ nhân” bị cơ quan quản lý phàn nàn đến khổ.
Các "thiên tài" Gô Ganh và Sô Panh đã trưởng thành, nghề nghiệp phát triển, chỉ có Anh Xtanh vẫn tuổi đi học. Đôi khi các con cũng bị các bạn đồng môn trêu chọc vì cái tên độc đó. Nhưng khi bố hỏi có cảm thấy không hài lòng với cái tên đó không thì các con trai đều nói: Chúng con tự hào vì được bố đặt tên, bây giờ đã là thương hiệu không lẫn vào đâu được, muốn quên cũng không được.
Ông vua Phú trị vì vương quốc sáu mét vuông theo một chế độ hà khắc, thường dùng gậy hơn là củ cà rốt. Vì thế các "thần dân" nghịch dại thế nào cũng bị ăn đòn quắn đít. Có lần cả 3 đều phải nằm úp nhận roi. Hàng xóm cứ nghe thấy tiếng trẻ con khóc rồi đét một cái kèm theo tiếng quát: Này thì Gô Ganh này… Này thì Sô Panh này… Này thì Anh Xtanh này. Các “thiên tài” đều bị "xé vé đồng hạng cả" khóc ré cả lên. Nhưng những trận đòn ấy cũng làm cho con ông nên người. Với ông, không nghiêm thì hỏng.
Khi có tuổi, bố Phú gọi các con lại bảo. Bố bây giờ thì "vượt kế hoạch" rồi nhé, nhưng các con còn sinh nhiều cháu. Bố đã theo được ba chữ "anh" rồi, nhưng còn hai chữ nữa bố rất muốn đặt cho các cháu là Rô Đanh (điêu khắc gia thiên tài Rodin) và Y Éc Xanh (nhà khoa học A. Yersin) thì các con nhất trí không? Anh cả Gô Ganh bảo: Thưa bố, cứ để chúng con tính. Hôm sau, Gô Ganh gặp bố nói: Chúng con rất muốn theo ý bố, nhưng sau khi họp "Hội đồng liên hợp quốc" quyết liệt thì chúng con xin bố cho chúng con được đặt theo cách của chúng con. Thế là bố Phú bó tay. Bắt đầu thời kỳ phản phong rồi đây.
Để nuôi nấng các con thời những năm 80, đừng mơ bán tranh nhé. Các danh họa bấc mét của ta cũng bán được rất nhỏ giọt, còn lại các họa sĩ phải trông vào các hợp đồng làm "thợ bôi" ở các triển lãm, vẽ bìa sách, minh họa lặt vặt. Việc ngon, năm thì mười họa mới đến tay. Ai có thể thông cảm với các nghệ sĩ được chứ các con đói thì không.
Bí quá, Nguyễn Đăng Phú mua trứng và chanh Vinh, loại chanh rất ngon đem ra bày mẹt ở vỉa hè Cửa Nam bán ngoài giờ, kiếm đồng ra đồng vào. Dân mình nghèo nhưng sĩ lắm. Vợ chồng Nguyễn Đăng Phú thì coi là chuyện nhỏ. Ai bán tranh thì bán, còn tớ là tớ bán chanh.
Chó cắn áo rách, có cái xe đạp thì nó lấy mất. Bực quá, Phú dành dụm mua cái xe khác rồi vẽ sơn từ vành lốp khung đến ghi đông. Nhìn cái xe vẽ thanh long bạch hổ, trộm nó cũng ngán vì khó bán nhanh được. Xe của lão cùn đến thế thì có cho không, kẻ trộm nó cũng tự ái.
Về sau Nguyễn Đăng Phú bán tranh đều đều, giải thưởng liên tục, đời sống tươm tất hơn, hai vợ chồng cứ nghĩ đến cái cảnh bày mẹt bán chanh mà cười ra nước mắt.
Một kết thúc có hậu cho những năm tháng gian nan đã lùi xa. Giấc mơ sáng tạo của Nguyễn Đăng Phú vẫn tiếp tục vì sức khỏe của ông vẫn tráng kiện. Nhưng bây giờ cũng là lúc đón những quả ngọt do những đứa con Gô Ganh, Sô Panh và Anh xtanh gặt hái. Làm cha đẻ của "thiên tài" vẫn là cái thú nhất.